Bắc Trà My nhìn lại chặng đường 75 năm triển khai các chính sách đến với đồng bào các dân tộc.

75 năm sau ngày thành lập Châu Trà My (19/03/1947 -19/03/2022), huyện vùng cao Bắc Trà My đã có sự đổi thay vượt bậc, đời sốngđồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương được nâng lên rõ rệt. Có được thành quả hôm nay là nhờ sự nỗ lực, cố gắng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương, sự đoàn kết, thống nhất cao của đồng bào các dân tộc tại huyện nhà. Và thực tế, nhiều công tác, chính sách dân tộc là “điểm tựa”, là “đòn bẫy” kịp thời giúp người dân vùng sâu, vùng xa của huyện vươn lên làm ăn, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo...

Quá trình hình thành.

Đảng ta luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội...”

Cơ quan công tác dân tộc với tổ chức tiền thân là Nha Dân tộc thiểu số (thành lập tại Nghị định số 359, ngày 09/9/1946 theo Sắc lệnh số 58, ngày 03/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) với chức năng, nhiệm vụ "Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số (DTTS) trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam". Ngay thời điểm đó, ở Quảng Nam Uỷ ban Hành chính tỉnh Quảng Nam đã quyết định thành lập Phòng Quốc dân thiểu số với chức năng, nhiệm vụ "Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số (DTTS) trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống của cấp cơ sở”. Năm 1947, thành lập Tổ Nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương, tiếp tục nhiệm vụ của Nha Dân tộc thiểu số với phương hướng hoạt động công tác dân tộc phù hợp với tình hình mới: “Mọi ngành công tác ở vùng đồng bào thiểu số phải có kế hoạch riêng, không thể chỉ đặt kế hoạch, chỉ thị chung như từ trước tới nay. Mỗi vùng thiểu số trong nước cần lập một Ban Vận động đồng bào thiểu số để nghiên cứu kế hoạch cho sát, đặc biệt chú ý mở trường đào tạo cán bộ thiểu số riêng như khu V, khu XIV đã làm. Phổ biến những kinh nghiệm quý báu về vấn đề vận động đồng bào thiểu số của khu V và khu XIV. Chính phủ phải có một Quỹ đặc biệt chi về việc vận động và giúp đỡ đồng bào thiểu số”.  

 Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng đã thành lập Ban miền núi tỉnh và sau đó được đổi tên thành Ban Dân tộc tỉnh, Ban Dân tộc Miền núi Quảng Nam, Ban có chức năng tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh chỉ đạo việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng.

Cụ thể hóa các chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước.

Để phát triển kinh tế - xã hội với giải quyết vấn đề dân tộc và quốc phòng - an ninh,  Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương chính sách tập trung hỗ trợ sinh kế và tạo điều kiện xóa đói, giảm nghèo, như: Chương trình 143 (Chương trình xóa đói, giảm nghèo và tạo việc làm giai đoạn 2001 - 2005, được phê duyệt theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg, ngày 27-9-2001, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, được phê duyệt theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31-7-1998, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình 134 (một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20-7-2004, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình phân bổ đất rừng và trồng rừng; các chính sách về giáo dục, y tế,... Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển sản xuất và ổn định đời sống cho người dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn; các chính sách ổn định cuộc sống cho người dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc thiểu số rất ít người; chính sách phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số; công tác tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Trong những năm qua, các chính sách này đã góp phần phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong đó có huyện vùng cao Bắc Trà My chúng ta.

Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, Chương trình 135 được triển khai trên địa bàn huyện với sự  hỗ trợ qua 05 hợp phần phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm:  Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao năng lực cộng đồng;  Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý; Duy tu bảo dưỡng công trình;  Nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và cộng đồng với nguồn kinh phí đầu tư trên địa bàn huyện trên 2.000 tỷ đồng. Chương trình đã hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo xây dựng 2.388 nhà ở đạt yêu cầu 3 cứng từ chương trình 134/CP về hỗ trợ xóa nhà tạm và nước sinh hoạt với nguồn vốn là 14,896 tỷ đồng. Đồng thời, huyện được đầu tư 21,199 tỷ đồng để xây dựng mới 40 công trình và sửa chữa, mở rộng 15 công trình nước sinh hoạt tập trung đều khắp trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đó,  có 2.970 hộ đồng bào và các cơ quan trường học được hưởng lợi. Huyện cũng đã sửa chữa, duy tu 15 nhà làng truyền thống phục vụ nhu cầu sinh hoạt, giao lưu văn hóa văn nghệ, nâng cao đời sống tinh thần của bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Thực hiện Quyết định 18/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách người có uy tín, huyện Bắc Trà My đã tổ chức bầu chọn người 56 ngươi uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Qua đó, phát huy được vai trò của Người có uy tín trong công tác tuyên truyền vận động đồng bào mình thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn huyện, giúp bà con các dân tộc thêm tin yêu và một lòng đi theo Đảng. Nhiều người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là tấm gương điển hình trong phát triển các mô hình kinh tế tại địa phương như ông Hồ Trường Sinh - thôn 1 xã Trà Giang.

Cùng với chương trình 135, thực hiện Quyết định 54/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Phòng dân tộc huyện đã tham mưu hỗ trợ phát triển kinh tế đã cho vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, thoát nghèo bền vững  đối với 47 hộ với số vốn vay. Tổng nguồn kinh phí cho vay là 256 triệu đồng,  giúp các hộ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế gia đình.  Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đã hỗ trợ công cụ máy móc, nước sinh hoạt phân tán, máy phát cỏ, máy tuốt lúa, ống dẫn nước cho 1.153 hộ hưởng lợi với tổng kinh phí 2.070 triệu đồng. 

Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021Bắc Trà My tiếp tục thực hiện dự án 2 Chương trình 135 Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 2 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, chương trình đã hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hơn 2, 557 tỷ đồng; cấp mới 92.817 thẻ bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, với tổng kinh phí 55.480.545 triệu đồng; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theo Quyết định 28/2014/QĐ-TTg và hộ bảo trợ xã hội 10.550.649 triệu đồng; hỗ trợ bằng hiện vật và tiền cho 14.971 hộ/64.359 khẩu, với tổng số tiền là: 6.282 triệu đồng. Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho 3.256 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi theo Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013; Chính sách đối với có người uy tín trong vùng dân tộc thiểu số theo Quyết định 18/2011/QĐ-TTg (nay là Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg). Thực hiện hỗ trợ người có uy tín gặp khó khăn, đau ốm, thăm tặng quà Tết 216 triệu đồng; cấp 50 đài Radio cho 50 người có uy tín trên địa bàn huyện. Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg với nguồn vốn thực hiện là 2.417 triệu đồng được đầu tư đường giao thông nông thôn tại thôn 8 xã Trà Tân. Các chính sách vay vốn cho người đồng bào DTTS  theo Quyết định 54, 755/QĐ-TTg, Quyết định 2085/QĐ-TTg đã hỗ trợ  cho trên 500 hộ vay vốn với số tiền trên 14.200 triệu đồng; hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 307 nhà ở. Thực hiện Nghị quyết 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/4/2017 về phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025, huyện Bắc Trà My đã sắp xếp, bố trí di dời 595 hộ gia đình có nhu cầu về chỗ ở. Gồm, các hộ dân vùng thiên tai cần di dời khẩn cấp, hộ dân sống trong các khu vực bảo vệ của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, hộ dân tộc thiểu số, hộ nghèo ở xã khu vực III, vùng đặc biệt khó khăn và các hộ dân khác cần thiết phải sắp xếp, bố trí lại do nguy cơ sạt lở, lũ ống, lũ quét, ngập lụt nguy hiểm, lốc xoáy với tổng kinh phí  trên 27.822 triệu đồng. Phát triển cây dược liệu theo Nghị quyết 202/NQ-HĐND tỉnh với kinh phí thực hiện 1.234 triệu đồng, hỗ trợ tinh thần, vật chất cho người có uy tín trên địa bàn huyện với tổng số tiền là 25 triệu đồng. 

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My  lần thứ III năm 2019

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai các chính sách dân tộc tại huyện Bắc Trà My vẫn còn thiếu sót, hạn chế như: Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng dân tộc và miền núi còn chậm và không ổn định; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều khó khăn, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, còn có sự chênh lệch về mức sống giữa vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các vùng trung và hạ du; văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp; trang thiết bị cho các trung tâm, trạm y tế xã còn thiếu và chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là người dân tộc tại chỗ còn thiếu; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của người dân; một số cán bộ cơ sở vùng dân tộc và miền núi còn hạn chế về trình độ học vấn và chuyên môn, nghiệp vụ; một số địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh với các huyện còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định; các thế lực thù địch luôn lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để tăng cường hoạt động phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc; quy trình, thủ tục quy định của một số chương trình, chính sách còn quá phức tạp so với năng lực thực tế của cán bộ cơ sở và điều kiện của vùng dân tộc thiểu số, nên việc xác lập phương án, hồ sơ và tổ chức triển khai thực hiện thường không đảm bảo tiến độ thời gian và có nhiều sai sót…

Bắc Trà My ưu tiên công tác, các chính sách dân tộc tạo sự đồng thuận, đoàn kết trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương. 

Trong thời gian đến, triển khai thực hiện Đề án tổng thể Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội; Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ Tướng Chính Phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân huyện nhà phấn đấu nâng cao, diện mạo vùng dân tộc thiểu số vùng cao sơn ngọc quế.

Thứ nhất, huyện sẽ triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ sản xuất thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tạo môi trường thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút nhiều lao động người dân tộc thiểu số; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu và tranh chấp đất sản xuất, đất ở cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Tập trung nguồn lực thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ như nhà ở, quy hoạch dân cư hộ nghèo, hộ sống ở vùng bão, lũ, ven sông, suối theo hướng ổn định, phát triển bền vững. 

Thứ hai, tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc và miền núi: Tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội địa bàn dân tộc thiểu số. Trong đó, ưu tiên hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường giao thông kết nối liên vùng sản xuất hàng hóa, trung tâm các xã, thôn, nóc; đảm bảo các công trình nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ; gắn với sắp xếp, ổn định dân cư thuận lợi cho phát triển; hạn chế tình trạng di cư tự do. Đảm bảo chuyển tải được các dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông và công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện.

Thứ ba, phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số; xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số: Thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện nâng cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả trường phổ thông dân tộc nội trú; xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp cho học sinh, sinh viên là người đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện các chương trình, mô hình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, hình thành thế hệ nông dân mới, biết ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thích ứng với cơ chế thị trường trong vùng đồng bào các dân tộc. Ưu tiên giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên đồng bào dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số 

Thứ tư, nâng cao năng lực, chất lượng khám chữa bệnh và thực hiện các dịch vụ y tế của trạm y tế xã, bệnh viện tuyến huyện. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế cho người đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển mạnh y tế dự phòng, không để xảy ra dịch bệnh lớn nhất là diễn biến biến phức tạp của dịch Covid- 19 hiện nay tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết thống, tảo hôn vùng đồng bào dân tộc. Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc và bảo vệ quyền trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin; nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động chống các biểu hiện mê tín, dị đoan, suy thoái đạo đức, lối sống.

Thứ năm, tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, quan tâm phát hiện nguồn, quy hoạch và đào tạo bồi dưỡng cán bộ người đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, chủ động nắm chắc diễn biến tình hình, giải quyết những mâu thuẫn nội bộ ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các “điểm nóng”, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, chủ động ngăn chặn các hoạt động chống phá khối đại đoàn kết dân tộc thông qua “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để lừa gạt, lôi kéo, kích động đồng bào các đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ sáu, huy động và lồng ghép các nguồn lực để thực hiện tốt các chính sách đặc thù, các chương trình phát triển kinh tế, xã hội ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đề nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi tiêu chí phân định địa bàn vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển phù hợp với chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều để có chính sách bố trí nguồn lực đầu tư cho phù hợp. Đối với những địa bàn dân tộc thiểu số quá khó khăn, không thể sản xuất được, xem xét các chính sách hỗ trợ ổn định lương thực và các nhu yếu phẩm cần thiết để người dân yên tâm giữ gìn tài nguyên, bảo vệ trật tự an toàn xã hội.

Lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh tặng giấy khen cho người có uy tín tiêu biểu nhân Hội nghị Tổng kết hoạt động và thực hiện chính sách người có uy tín năm 2021

Kỷ niệm 75 năm thành lập Châu Trà My là dịp để các già làng uy tín, đồng bào các dân tộc huyện nhà ôn lại một chặng đường lịch sử hào hùng của vùng đất Trà My anh hùng, cách mạng. Đồng thời, đây cũng là dịp để mỗi cán bộ làm công tác dân tộc tại địa phương nhìn lại một chặng đường đã qua, phấn đấu khắc phục khó khăn, tiếp tục đưa các chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước đến với đồng bào vùng khó khăn của huyện

Tin liên quan